CD

Tổ khúc cho đàn phím của Bach: Những viên ngọc quý từ ngàn xưa

(01:13 | 14/01/2018) Xem: 1669
Trong kho tàng âm nhạc đồ sộ của Johann Sebastian Bach (1685 – 1750) cho đàn phím, các tổ khúc chiếm một vị trí trang trọng vì vẻ đẹp vĩnh hằng mặc cho về kỹ thuật, chúng cũng có thể khó dễ chơi.

The English Suites BWV 806-811, là tập 6 tổ khúc của Johann Sebastian Bach cho đàn phím (harpsichord) và được cho là đã ra mắt sớm nhất trong số 19 tổ khúc của Bach cho loại đàn này. Những tổ khúc khác là 6 French Suites, BWV 812-817, 6 Partitas, BWV 825-830 và Overture theo phong cách Pháp, BWV 831.


Box 160 CD Bach Edition.

Các tổ khúc Anh, BWV 806 - 811

Sáu tổ khúc Anh cho đàn phím (tiếng Anh – harpsichord, tiếng Đức - cembalo, tiếng Pháp - clavecin) được cho là tập tổ khúc sớm nhất mà Bach đã sáng tác. Thời gian Bach sáng tác những tổ khúc này từng được cho là từ 1718 đến 1720 nhưng những nghiên cứu gần đây lại cho rằng có khả năng Bach đã viết các tổ khúc này trước đó, vào khoảng năm 1715 khi nhà soạn nhạc sống và phụng sự âm nhạc ở Weimar.

Các tổ khúc Anh của Bach phản ánh ít hấp lực tới phong cách Baroque của đàn phím Anh hơn là các tổ khúc Pháp tới phong cách Baroque của đàn phím Pháp. Tên của chuỗi tổ khúc Anh được cho là xuất phát từ nhà viết tiểu sử Bach tên là Johann Nikolaus Forkel đưa ra vào thế kỷ 19. Forkel nói rằng những tác phẩm này có thể đã được sáng tác cho một quý tộc người Anh nhưng không có bằng chứng nào chứng minh cho điều này. Nó cũng được cho rằng tên người cụ thể này là Charles Dieupart nổi tiếng nhất khi ở Anh và sáu tổ khúc Anh của Bach đã được viết dành cho người này.

Đặc điểm bề mặt của các tổ khúc Anh mạnh mẽ tựa như của các tổ khúc Pháp và các Partita của Bach, đặc biệt là trong cơ cấu tổ chức tuần tự vũ điệu và sử dụng lối thực hành hoa mĩ. Những tổ khúc Pháp cũng giống các đàn phím Baroque Pháp đặc trưng của thế hệ các nhà soạn nhạc bao gồm Jean-Henri d'Anglebert và các truyền thống vũ điệu của các nghệ sĩ đàn lute Pháp có từ trước đó.

Trong các tổ khúc Anh, quan hệ của Bach với âm nhạc lute của Pháp thể hiện bằng cách đưa ông về dùng khúc dạo đầu (Prelude) cho mỗi tổ khúc, không theo truyền thống của những dẫn xuất Đức của tổ khúc Pháp với tiến triển tương đối nghiêm ngặt của các vũ điệu (Allemande, Courante, Sarabande và Gigue), trong đó không có Prelude. Không giống các prelude không đo được của lute hay đàn phím Pháp, các Prelude của Bach trong các tổ khúc Anh được cấu tạo bởi nhịp điệu nghiêm ngặt.

1. Suite in A Major, BWV 806: Prelude, Allemande, Courante I, Courante II, Double I, Double II, Sarabande, Bourrée I, Bourrée II, Gigue. Suite in A Major không bình thường vì có 2 Courante, 2 Double.

2. Suite in A minor, BWV 807: Prelude, Allemande, Courante, Sarabande, Bourrée I, Bourrée II, Gigue.

3. Suite in G minor, BWV 808: Prelude, Allemande, Courante, Sarabande, Gavotte I, Gavotte II, Gigue.

4. Suite in F Major, BWV 809: Prelude, Allemande, Courante, Sarabande, Menuet I, Menuet II, Gigue.

5. Suite in E minor, BWV 810: Prelude, Allemande, Courante, Sarabande, Passepied I, Passepied II, Gigue.

6. Suite in D minor, BWV 811: Prelude, Allemande, Courante, Sarabande, Double, Gavotte I, Gavotte II, Gigue.


Alan Curtis - một trong những người chơi nhạc Bach hay.

Các tổ khúc Pháp, BWV 812 - 817

Các tổ khúc Pháp, BWV 812 – 817 là sáu tổ khúc mà Bach đã viết cho đàn phím giữa những năm 1722 và 1725. Mặc dù các suites 1 - 4 thường được cho là có niên đại năm 1722, chúng có thể đã được viết phần nào trước đó. Các suites này sau đó đã được đặt tên là French Suite (sử dụng lần đầu bởi Friedrich Wilhelm Marpurg năm 1762). Tương tự, các tổ khúc Anh cũng nhận được tên gọi The English Suite về sau này. Nó được phổ biến rộng rãi bởi người viết tiểu sử của Bach Johann Nikolaus Forkel. Forkel đã viết một cuốn tiểu sử Bach vào năm 1802.

Mọi người thường nhầm lẫn cho rằng các tổ khúc Pháp được gọi là French Suite vì chúng được viết theo lối Pháp. Thông tin này không chính xác vì chúng được Bach viết chủ yếu theo một quy ước của Italia. Ngày nay, không còn bản thảo cuối cùng của các tổ khúc này và lối trình bày hoa mĩ cũng đã thay đổi cả về loại hình và mức độ. Các Courante ở tổ khúc đầu tiên (cung Rê thứ) và tổ khúc thứ ba (cung si thứ) đã được viết theo phong cách Pháp; các Courante của 4 tổ khúc khác đều viết theo phong cách Italia.

Trong bất kỳ tình huống nào, Bach cũng sẵn sàng sử dụng các vũ điệu hoàn toàn của nước ngoài so với phong cách Pháp (như Polonaise của tổ khúc số 6). Thông thường, các chương 2 ở nhịp nhanh của các tổ khúc sau chương đầu Allemande được đặt tên theo một trong hai cách gồm Courante (theo phong cách Pháp) hoặc Corrente (theo phong cách Italia), nhưng trong tất cả các tổ khúc, các chương 2 đều được đặt tên Courante theo sách “Danh mục Bach”, hỗ trợ các ý kiến cho rằng các tổ khúc là “Pháp” thay vì “Italia”. Một số các bản thảo đã đến được với chúng ta ngày nay có tiêu đề “Suites Pour Le Clavecin”. Đó là những gì có thể dẫn đến các truyền thống gọi chúng là tổ khúc Pháp (French Suite).

Hai tổ khúc bổ sung, là La thứ (BWV 818) và Mi giáng trưởng (BWV 819) được liên kết đến sáu trong một số bản thảo quen thuộc. French Overture, BWV 831, mà Bach công bố như là phần thứ hai của Clavier-Übung (Keyboard Practice - Thực hành đàn phím) - một bộ tác phẩm riêng theo phong cách Pháp nhưng không kết nối với các tổ khúc Pháp. Một số bản thảo không thấy trong các bản sao khác có lẽ là giả.

1. Suite in D minor, BWV 812: Allemande, Courante, Sarabande, Menuet I / II, Gigue.

2. Suite in C minor, BWV 813: Allemande, Courante, Sarabande, Air, Menuet, Menuet - Trio (trong BWV 813a), Gigue.

3. Suite in B minor, BWV 814: Allemande, Courante, Sarabande, Anglaise - ban đầu, Bach đặt tựa cho chương này là Gavotte (một điệu nhảy rất giống với Anglaise), Menuet, Trio, Gigue.

4. Suite in E-Flat major, BWV 815: Allemande, Courante, Sarabande, Gavotte, Air, Menuet, Gigue.

5. Suite in G major, BWV 816: Allemande, Courante, Sarabande, Gavotte, Bourrée, Loure, Gigue.

6. Suite in E major, BWV 817: Allemande, Courante, Sarabande, Gavotte, Polonaise, Bourrée, Menuet, Gigue.


Karl Richter - một trong những người chơi nhạc Bach hay.

Các Partita cho đàn phím

Các Partita, BWV 825-830, là một tập hợp của sáu tổ khúc cho đàn phím của Bach, xuất bản trong các năm 1726-1730 và là lần đầu tiên tác phẩm của Bach được công bố. Những tổ khúc khác là sáu tổ khúc Anh BWV 806-811 và sáu tổ khúc Pháp, BWV 812-817. Những Partita cho đàn phím được Bach sáng tác với các kỹ thuật khắt khe nhất trong ba bộ tổ khúc. Chúng được sáng tác từ năm 1725 đến 1730 hoặc 1731. Như với các tổ khúc Pháp và các tổ khúc Anh, bản thảo gốc của các Partita hiện không còn tồn tại.

Để phù hợp với một truyền thống đặt tên trong thế kỷ XIX với nhãn tập đầu tiên của Bach là các tổ khúc Anh và tập tổ khúc thứ hai là các tổ khúc Pháp, các Partita của Bach đôi khi còn được gọi là các tổ khúc Đức. Tuy nhiên, đó chỉ là một cách làm đơn giản, tiện cho việc xuất bản còn không có gì đặc biệt về phương diện “Đức” trong các Partita. So với hai bộ tổ khúc trước, các Partita lỏng lẻo về cấu trúc nhất. Không giống như các tổ khúc Anh, trong đó mỗi tổ khúc được mở màn với một Prelude nghiêm ngặt, các Partita có một số tính năng mở khác nhau, bao gồm cả một Overture có tính trang trí và một Toccata.

Mặc dù mỗi Partita được công bố riêng, chúng được thu thập thành một tập duy nhất vào năm 1731 và được biết đến như là Keyboard Practice I (Thực hành đàn phím I) mà Bach đã chọn để dán nhãn Opus 1. Không giống các bộ tổ khúc trước, Bach ban đầu dự định xuất bản bảy Partitas như ông quảng cáo vào mùa xuân năm 1730 khi công bố bản Partita thứ năm là… “sẽ thêm hai Partita như vậy”.

1. Partita in B-flat major, BWV 825: Praeludium, Allemande, Corrente, Sarabande, Menuet I, Menuet II, Gigue.

2. Partita in C minor, BWV 826: Sinfonia, Allemande, Courante, Sarabande, Rondeaux, Capriccio.

3. Partita in A minor, BWV 827: Fantasia, Allemande, Corrente, Sarabande, Burlesca, Scherzo, Gigue.

4. Partita in D major, BWV 828: Ouverture, Allemande, Courante, Aria, Sarabande, Menuet, Gigue.

5. Partita in G major, BWV 829: Praeambulum, Allemande, Corrente, Sarabande, Tempo di Minuetto, Passepied, Gigue.

6. Partita in E minor, BWV 830: Toccata, Allemande, Corrente, Air, Sarabande, Tempo di Gavotta, Gigue.

Overture theo phong cách Pháp, BWV 831

Overture theo phong cách Pháp, BWV 831 có tiêu đề gốc “Ouverture nach Französischer Art”, còn được gọi là French Overture và xuất bản như là một nửa thứ hai của Keyboard Practice II năm 1735 (kết hợp với Concerto Italia), là một tổ khúc ở điệu Si thứ cho harpsichord của Bach. Một phiên bản trước đó của tác phẩm này tồn tại, trong khóa biểu Đô thứ (BWV 831a); công việc đã được chuyển dịch thành Si thứ để hoàn thành vòng lặp của âm điệu trong Phần Một và Phần Hai của Keyboard Practice.

Overture đề cập đến thực tế là tổ khúc này bắt đầu với một chương overture, và là một cái tên chung cho cả bộ Overture Pháp (tổ khúc cho dàn nhạc của Bach cũng đã được đặt tên tương tự). Chương Overture này thay thế cho Allemande thường thấy trong các tổ khúc cho đàn phím khác của Bach. Ngoài ra, có những vũ điệu trước và sau Sarabande. Chương bắt buộc chỉ có sau Sarabande. Tất cả ba vũ điệu tùy chọn được thể hiện theo cặp, với vũ điệu đầu tiên lặp lại sau vũ điệu thứ hai. Và cũng là một điều bất thường vì tác phẩm lại có thêm một chương phụ sau vũ điệu Gigue. Đó là chương Echo (có nghĩa là “tiếng vọng”) để khai thác các động lực to lớn và mềm mại của harpsichord hai bàn phím. Các chương khác cũng có chỉ dẫn độ động (piano and forte – nhỏ và to) không thường thấy ở các tác phẩm dành cho đàn phím thời Baroque và chỉ dẫn cách sử dụng trên cả hai bàn phím của Harpsichord. Với 11 chương, Overture Pháp là tổ khúc dành cho đàn phím dài nhất từng được sáng tác bởi Bach. Nó có thời lượng khoảng 30 phút nếu tất cả các đoạn lặp trong mỗi chương đều được biểu diễn đủ.

Phong cách sáng tác Overture Pháp của Bach gợi nhớ tới sáng tác của những nhạc sĩ Pháp như François Couperin, người đã xuất bản các tác phẩm ở định dạng suite này. Những tổ khúc đó đã được sáng tác cho cả hai nhạc cụ độc tấu và dàn nhạc. Với Bach, mặc dù ông sáng tác chỉ cho một harpsichord độc tấu nhưng đã đạt được âm thanh đầy đủ hơn so với sáng tác của nhà soạn nhạc Pháp.

Overture theo phong cách Pháp, BWV 831: Overture, Courante, Gavotte I / II, Passepied I / II, Sarabande, Bourrée I / II, Gigue, Echo.


Trevor Pinnock - một trong những người chơi nhạc Bach hay.

Những viên ngọc quý

Khi piano xuất hiện, đàn phím bị đẩy vào chân tường. Hàng trăm năm sau khi Bach mất, đàn phím hầu như không còn đất sống. Mãi về sau, người ta mới lại thấy tác dụng của những cây đàn phím, nhất là với việc trình bày các tác phẩm của thời kỳ Baroque, trong đó Bach là tác giả vĩ đại nhất. Vì thế, cây đàn phím lại được phục sinh một cách mạnh mẽ. Ngày nay, người ta lại sản xuất đàn phím và đưa nó vào đời sống âm nhạc hiện đại. Với sự mềm mại và trong trẻo “như tiếng hạc…”, đàn phím lại trở thành một nhạc cụ không thể nào thay thế trong nhiều phương diện.

Tất cả các tổ khúc, partita và overture cho đàn phím nói ở trên đều có thể biểu diễn trên đàn piano và thực tế là các nghệ sĩ piano cũng thi nhau biểu diễn và ghi âm các tác phẩm đó trên cây đàn của mình. Tuy nhiên, piano không thể nào thay thế được cây đàn phím harpsichord trong việc thực thi các sắc thái và nội dung nghệ thuật của các tác phẩm của Bach dành cho đàn phím. Mọi người đều biết, khi piano vừa ra đời, Bach là người phản đối kịch liệt vì cho rằng cây đàn này sẽ giết chết âm nhạc. Tuy nhiên, sau này, trước khi mất, Bach thừa nhận sự có lý của cây đàn kim khí đó và viết nhiều tác phẩm cho nó, trong đó có 2 tập Bình quân luật (The Well Tempered Clavier) có thể sử dụng tốt cho cả đàn phím và piano.

Khi thế giới bước sang thế kỷ 21, mọi chuyển động trong đời sống đều như nhanh hơn. Thời gian là yếu tố không thể thiếu trong việc xác định chuyển động nhanh hay chậm cũng như mỗi ngày giờ đây như một ngắn hơn. Người ta biết cái gì sẽ xảy ra ngay từ khi sự kiện còn chưa bắt đầu. Trong khi đó, những sự kiện dù là nhanh hay chậm của thời kỳ Baroque cũng đều chậm rãi, điềm đạm hơn nhiều so với hiện tại. Cả cao độ của những nốt nhạc – thứ cũng gián tiếp cho biết chuyển động là nhanh (cho âm thanh cao) hay chậm (cho âm thanh thấp). Nốt La quãng tám thứ nhất thời của Bach chỉ có tần số 412 Hz, thấp hơn nhiều so với 440 Hz hiện nay. Vì thế, nghe các tổ khúc, partita, overture cho đàn phím của Bach giúp ích rất nhiều cho con người hiện đại. Họ sẽ nhanh chóng tìm thấy vị trí thăng bằng của mình chỉ sau khi vừa nghe vài ô nhịp âm nhạc của Bach, đặc biệt là các tổ khúc, partita và overture cho đàn phím.

Sinh thời, Bach nghiên cứu rất kỹ các loại hình nghệ thuật cổ đại. Ví dụ, nghiên cứu về thuật hùng biện (nói trước đám đông) của La Mã cổ, Bach rút ra kết luận “muốn nói hay, phải thực hành tốt 3 yêu cầu: “Đúng, Sạch, Đẹp” và Bach cũng cho rằng người nghệ sĩ chơi nhạc sau này muốn chinh phục được khán thính giả cũng phải thực hành 3 điểm “Đúng, Sạch, Đẹp”. Bach thấm nhuần cả các nguyên lý nghệ thuật cổ Hy Lạp. Có một mối liên hệ rất tình cờ giữa các tổ khúc cho đàn phím của Bach với thần thoại Hy Lạp. Người viết bài đã chứng kiến một nữ sinh piano 11 tuổi ở Nhạc viện TP.HCM trong khi biểu diễn một tổ khúc Pháp đã lấy lời dẫn từ các truyện thần thoại Hy Lạp để minh họa và màn diễn của bé rất ăn ý.

Nghe với: Máy tính để bàn iMAC nối mạng Internet, dây ADL USB B; CDP Denon DCD 3300, dây tín hiệu Analysis Plus Chocolate Oval; USB DAC Furutech GT40a, dây tín hiệu Analysis Plus Chocolate Oval; Ampli đèn tích hợp Rogue Audio Cronus Magnum KT90, dây loa Analysis Plus Oval 12; Loa Infinity Studio Monitor 150, Cục đạn điều âm loa Totem Beak. JS Bach English Suites BWV 806-811,Alan Curtis; JS Bach French Suites BWV 812-817, Alan Curtis; J.S.Bach - Six Partitas (Karl Richter); J.S. Bach - French Overture for Harpsichord in b-minor, BWV 831. Box 160 CD Bach Edition (Briliant Classic, 2000) – Keyboard Works.

Gửi nhận xét

Đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận