Long Play

Parsifal – nhạc kịch cuối cùng, huyền bí của Wagner

(21:01 | 02/03/2018) Xem: 1138
Parsifal (WWV 111) là opera cuối cùng của nhạc sĩ Richard Wagner (1813 - 1883). Nó gồm 3 chương dựa trên libretto của chính tác giả, được biểu diễn ra mắt lần đầu năm 1882 ở Bayreuth và được cho là có tác động đến tính thẩm mỹ của chủ nghĩa biểu tượng.



Libretto (phần lời) của tác phẩm do chính Richard Wagner viết. Câu chuyện xảy ra tại Tây Ban Nha và kéo dài khoảng hơn 4 giờ. Vở opera lấy cảm hứng từ sử thi “Parzival” của Wolfram von Eschenbach ở đầu thế kỷ XIII. Nhưng, như mọi lần, khi các nhà soạn nhạc bắt tay vào làm libretto, libretto của Wagner có một ý nghĩa văn học độc lập.

Những bản phác thảo đầu tiên mang tên “Parzival” được Wagner viết từ năm 1857 trong quá trình làm “Lohengrin” (một vở opera khác của Wagner). Nhạc sĩ bắt đầu soạn nhạc cho Parsifal vào năm 1877, đến tháng 1/1882 thì hoàn thành. Buổi ra mắt của Parsifal đã được tổ chức vào ngày 26/7/1882 như là một phần của Liên hoan âm nhạc Bayreuth. Hermann Levi chỉ huy vở kịch, các vai chính được thực hiện bởi Hermann Winkelmann (Parsifal), Amalie Materna (Kundry), Theodore Reichman (Amfortas), Emil SCAR (Gurnemanz), Karl Hill (Klingsor), August Kindermann (Titurel).

Theo di chúc của Wagner, Parsifal chỉ được diễn tại Bayreuth Festival còn tại những nơi khác trên thế giới chỉ bắt đầu được xem xét khi đã hết thời hạn bản quyền vào năm 1913.

Các vai diễn

Amfortas, vua của xứ Grail (baritone)
Titurel, cha của Amfortas (bass)
Gurnemanz, hiệp sĩ của xứ Grail (bass)
Parsifal (tenor)
Kundry (soprano hoặc mezzo-soprano)
Klingsor, một thuật sĩ ác độc (bass)
Bốn pageboy (tenor và alto)
Flower Maidens (soprano và alto)
Giọng nói từ trên cao (alto)
Choir: Hiệp sĩ xứ Grail, các chàng trai, bé trai và các cô gái.

Tóm tắt câu chuyện

Triết lý của opera là băng qua đau khổ để hiểu biết, từ hiểu biết đến lòng từ bi, từ lòng từ bi đến yêu thương…

Màn một

Mùa thu. Buổi sáng trong rừng. Gurnemanz và các hiệp sĩ của xứ Grail ngủ dưới gốc cây. Gurnemanz tỉnh dậy và đánh thức các hiệp sĩ. Mọi người chìm đắm trong cầu nguyện. Trên cáng, các hiệp sĩ mang theo vị vua Amfortas đang bị những vết thương không thể chữa khỏi. Trên lưng ngựa, một người đàn bà Kundry mặc quần áo thô với mái tóc xõa nhanh chóng lao đến. Bà mang thứ dầu chữa bệnh kỳ diệu từ xa tới cho Amfortas. Bà kiệt sức rơi xuống đất. Tuy nhiên dầu này không giúp được vua; ông tiếp tục phải nằm cáng trên con đường của mình để đi tới một cái hồ. Các hiệp sĩ gọi Kundry là ngoại giáo, phù thủy, nhưng Gurnemanz bảo vệ cô. Cô ta sẽ cứu chuộc mình bằng bất cứ điều gì có thể.

Hiệp sĩ già của xứ Grail kể chuyện vua Titurel đã trở thành người giám hộ của hai thánh tích gồm ly mà Đức Kitô đã uống trong bữa Tiệc Ly, và cây giáo đã đâm ngài trên thập tự giá. Người thừa kế Titurel, Amfortas, trang bị giáo thiêng liêng, một khi đã đi để trừng phạt các nhà ảo thuật Klingsor tội lỗi, người đã không được phép vào nhóm huynh đệ của các hiệp sĩ xứ Grail và bất kể thế nào cũng bĩ các hiệp sĩ báo thù. Sorcerer, người có quyền lực hơn Kundry đã gửi cô ấy đến quyến rũ Amfortas và quản lý chiếc giáo thiêng và đánh vua trẻ khiến ngài bị những vết thương không thể chữa được. Theo tiên tri, nó có thể chữa lành chỉ nhờ sự tinh khiết, tầm nhìn của mình thông qua sự đồng cảm, hối hận.

Câu chuyện của Gurnemanz bị gián đoạn bởi sự xuất hiện của các hiệp sĩ dẫn một thanh niên bắn đàn thiên nga bằng cung. Gurnemanz cáo buộc chàng trai vi phạm pháp luật: Tại Grail, động vật cũng là vật linh thiêng và bất kỳ hoạt động săn bắt nào cũng bị cấm; thanh niên ăn năn đã bẻ bỏ cây cung của mình. Anh ta không thể nói bất cứ điều gì về bản thân, anh ta không biết tên của người cha hoặc nơi sinh, thậm chí cả tên của chính anh ta.

Anh chỉ nhớ mẹ của mình, người mà anh đã sống cùng trong rừng và bỏ bà để đi theo các hiệp sĩ giang hồ vì muốn được như họ. Kundry nói Parsifal không có tội vì anh ta đã vi phạm luật pháp do không biết. Đặc biệt, mẹ anh ta, Nữ hoàng Gertseloyda đã khiến anh ta hoàn toàn ở trong bóng tối với hy vọng cứu anh ta ra khỏi số phận của cha mình là vua Gandini, người đã bị giết trong chiến trận. Gurnemanz hy vọng rằng anh đã tìm thấy ở anh ta thứ “khờ tinh khiết” sẽ chữa lành cho Amfortas bèn dẫn anh ta đến lâu đài.

Rừng xanh khuất dạng, tiếng chuông vẳng tới. Gurnemanz và Parsifal có mặt trong đại sảnh của lâu đài. Đoàn rước kiệu trọng thể di chuyển cùng các hiệp sĩ mang theo chiếc bát trùm dưới tấm chăn. Titurel đòi hỏi con trai thực hiện các nghi thức bí tích, nhưng mỗi lần khi tháo nắp từ chiếc bát thiêng, vết thương của Amfortas lại hở ra khiến ông đau khổ một cách tàn nhẫn: vết thương dày vò, thậm chí nhiều hơn đem đến ý thức về tội lỗi.

Tuy nhiên, nghi thức này lại là điều duy nhất để duy trì sự sống cho Titurel, người cha của Amfortas. Cuối cùng ông quyết định loại bỏ nắp đậy ra khỏi bát. Chung quanh tối đi, một chùm sáng chiếu soi xứ Grail. Amfortas nâng cốc, hiệp sĩ tham dự, ca ngợi các bí tích. Parsifal không hiểu ý nghĩa của buổi lễ và sự phàn nàn của Amfortas, la hét trong đau đớn, tất cả những gì xảy ra là anh chỉ có những cảm xúc mơ hồ và thất vọng. Gurnemanz đuổi anh ta khỏi lâu đài: “Anh không xứng đáng là một hiệp sĩ của xứ Grail”.

Màn hai

Lâu đài huyền bí Klingsor. Magician ngồi ở phía trước của một tấm gương. Ông đánh thức Kundry: Cô phải quyến rũ Parsifal (như Amfortas đã từng làm), trong đó, vượt qua mọi trở ngại, tiến gần lâu đài. Kundry cố gắng trong vô vọng để chống lại vì cô là cấp dưới của Klingsor. Cô đã từng chế nhạo Chúa Kitô trên đường lên Thập Giá và kể từ đó đã phải chịu một sự tái sinh liên tiếp, cố gắng trong vô ích để chuộc tội lỗi của mình.

Phía trước Parsifal xuất hiện một khu vườn huyền diệu với những bông hoa đẹp cùng các trinh nữ, những người đang cố gắng để quyến rũ các hiệp sĩ. Người đẹp nhất là Kundry  bỏ hết mọi thứ để thu hút sự chú ý của Parsifal. Từ cô, Parsifal mới biết anh ta là ai: Lần đầu tiên, cô gọi anh bằng tên, nói với anh về quá khứ, về cái chết của mẹ mình, mà Parsifal có thể tự trách bản thân. Kundry hứa với Parsifal rằng cô sẽ an ủi đau buồn của anh bằng nụ hôn của tình yêu, cô sẽ cho anh ta nụ hôn từ người mẹ của mình.

Kundry hôn anh ta, nhưng thay vì Parsifal bắt đầu thấy sức mạnh của mình thì đột nhiên nó cháy trong nhận thức về những khổ đau của Amfortas khiến anh nhớ về những vết thương và đẩy Kundry ra, từ chối niềm đam mê. Bị từ chối, Kundry nguyền rủa Parsifal, nói rằng anh ta đã không tìm được đường đến với Amfortas và gọi Klingsor, người ném cho Parsifal chiếc giáo thiêng, nhưng nó đóng băng trong không trung ở trên đầu anh. Chàng trai ra dấu thánh giá, khu vườn biến thành sa mạc. Lời nguyền với Kundry biến mất. “Cô biết nơi cô có thể tìm thấy tôi”, Parsifal nói với cô đặng vội vã đi tìm Amfortas.

Màn ba

Ngày xuân. Trong vùng lân cận của các lâu đài của xứ Grail, Gurnemanz mặc quần áo ẩn sĩ trông thấy Kundry trong một giấc ngủ nặng nề. Ông đã cho cô ta cảm xúc và nhận ra diện mạo và hành vi của cô đã thay đổi, nó không còn man rợ bốc đồng nữa. Kundry đã trở nên khiêm nhường. Trong khi đó, có một hiệp sĩ trong bộ giáp tối im lặng.

Hiệp sĩ chưa biết kia chính là Parsifal. Anh ta kể đã làm thế nào có được ngọn giáo thiêng và khó khăn thế nào để tìm được đường trở lại. Gurnemanz lần lượt kể về Amfortas trên đường dẫn đến cái chết đã từ chối giữ nghi thức thiêng liêng của việc mở bát, cuộc sống của huynh đệ đang bế tắc, Titurel đã bị tước đoạt thiền đền và đã qua đời.

Ngày hôm nay, tại sự kiện chôn cất Titurel, Amfotras quyết định tổ chức một buổi lễ cuối cùng. Gurnemanz biết cây giáo thiêng liêng. Kundry chạy đến quỳ xuống trước mặt Parsifal, đổ dầu thơm lên đôi chân của anh ta, và lau chúng bằng mái tóc của mình; Gurnemanz dâng anh ta cho vua xứ Grail. Kundry rửa tội cho anh ta. Parsifal ngạc nhiên bởi vẻ đẹp lạ thường của thiên nhiên. Gurnemanz nói với anh ta về phép lạ của Thánh thứ Sáu. Sau đó, cả ba người đi đến lâu đài.

Các hiệp sĩ thu thập cho các bí tích cuối cùng, nhưng một lần nữa họ bị Amfortas từ chối tổ chức một buổi lễ vốn khiến cho ông quá nhiều đau khổ và yêu cầu các hiệp sĩ giết chết ông ta. Parsifal chữa lành cho Amfortas bằng ngọn giáo thiêng liêng và loại bỏ các tấm màn che từ bát thánh. Bát thánh tỏa sáng trong tay Parsifal. Chim bồ câu trắng bay từ dưới mái vòm của đền thờ và bay trên đầu Parsifal. Kundry tìm thấy bình an và sự tha thứ. Sự cứu chuộc đã hoàn tất.

Toàn bộ tác phẩm “Parsifal” là một sự hòa trộn, diễn tiến điêu luyện của các màn hát, hét, hát nói, hòa tấu giao hưởng. Nhạc từ êm dịu đến gắt gỏng đều chung nét đẹp như nhung lụa, gấm vóc. Tất thảy làm nên một bữa tiệc nhạc kịch cực kỳ thịnh soạn.

Vài nét về thân thế và sự nghiệp của Wagner

Sinh ngày 22/5/1813 tại Leipzig, Đức và mất ngày 13/2/1883 tại Venice, Italia, Richard Wagner là nhà soạn nhạc Đức, nhà lý luận nghệ thuật. Là nhà cải cách opera lớn nhất, Wagner đã có một ảnh hưởng đáng kể đến nền văn hóa âm nhạc châu Âu, đặc biệt là Đức. Wagner sinh ra trong gia đình quan chức Karl Friedrich Wagner (1770-1813). Wagner chịu ảnh hưởng bởi người cha dượng (diễn viên Ludwig Geyer), được giáo dục ở trường Thánh Thomas ở Leipzig và từ năm 1828 bắt đầu học nhạc tại Nhà thờ St. Thomas Cantor Theodore Vaynliga. Năm 1831, ông học nhạc tiếp tại Đại học Leipzig.

Trong những năm 1833 – 1842 Wagner có một cuộc sống đầy khó khăn, thường xuyên thiếu thốn ở Würzburg, nơi ông làm việc như một chỉ huy hợp xướng và ở Magdeburg, sau đó ở Königsberg và Riga, nơi ông làm nhạc trưởng của nhà hát nhạc kịch rồi ở Na Uy, London và Paris, nơi ông đã viết overture “Faust” và opera “The Flying Dutchman”. Năm 1842, buổi ra mắt thắng lợi của vở opera “Rienzi, the Last of the Tribunes” ở Dresden đã khiến Wagner trở nên nổi tiếng.

Một năm sau, Wagner đã thành nhạc trưởng dàn nhạc hoàng gia Saxon. Năm 1849, Wagner tham gia cuộc nổi dậy Dresden, thất bại, phải trốn sang Zurich, nơi ông viết libretto của bộ tứ opera khổng lồ “Der Ring des Nibelungen” cùng âm nhạc của hai phần đầu là “Das Rheingold” và “Valkyrie” và opera “Tristan và Isolde”. Năm 1858 - Wagner đã đến Venice, Lucerne, Vienna, Paris và Berlin trong một thời gian ngắn.

Năm 1864, được vua của vùng Bavarian là Ludwig II trả nợ giúp và ủng hộ hơn nữa, Wagner đã chuyển đến Munich và viết opera trào phúng “The Mastersingers of Nuremberg” và hai phần cuối của bộ tứ “Der Ring des Nibelungen” là “Siegfried” và “Götterdämmerung”. Năm 1872, ở Bayreuth, Wagner đã tổ chức Lễ đặt đá móng cho nhà hát Festival Hall mở cửa vào năm 1876, và là nơi ra mắt của bộ tứ “Der Ring des Nibelungen” trong các ngày 13 – 17/8/1876. Năm 1882, ở Bayreuth, opera “Parsifal” được dàn dựng. Cùng năm đó, Wagner đi nghỉ ở Italia vì lý do sức khỏe. Ông ở Venice và qua đời vào năm 1883 sau một cơn đau tim. Wagner được chôn cất ở Bayreuth.

Lớn hơn nhiều so với tất cả các nhà soạn nhạc châu Âu thế kỷ XIX, Wagner thấy nghệ thuật của mình như tổng hợp và là một cách thể hiện một quan niệm triết học. Bản chất của nó có hình dạng của một câu cách ngôn trong đoạn văn sau đây từ bài viết của Wagner “Tác phẩm nghệ thuật của tương lai”: “Như một người không được tự do vì chưa tiếp cận được những kết nối hạnh phúc với thiên nhiên, nghệ thuật sẽ không được tự do cho đến khi nó biến mất do xấu hổ vì cuộc sống”.

Từ khái niệm này xuất phát hai ý tưởng cơ bản: nghệ thuật cần được tạo ra bởi một cộng đồng của người dân và thuộc về cộng đồng này; hình thức cao nhất của nghệ thuật là nhạc kịch, được hiểu như một sự thống nhất hữu cơ của lời nói và âm thanh. Ý tưởng đầu tiên là hình ảnh thu nhỏ của Bayreuth, nơi mà Nhà hát lần đầu tiên bắt đầu được coi là một ngôi đền của nghệ thuật, không phải là địa điểm vui chơi giải trí; phương án thứ hai của ý tưởng – điều này tạo ra một opera của Wagner – hình thức mới của nhạc kịch.

Đó là mục đích sáng tạo và cuộc sống sáng tạo của Wagner. Một số yếu tố thể hiện nhiều hơn trong các vở opera đầu tiên của năm 1840 – “The Flying Dutchman”, “Tannhauser” và “Lohengrin”. Hiện thân đầy đủ nhất về lý thuyết của nhạc kịch của Wagner là ở các bài báo đăng ở Thụy Sĩ của Wagner (“Opera và Drama”, “Nghệ thuật và cuộc cách mạng”, “Âm nhạc và Kịch nghệ”, “Tác phẩm nghệ thuật của tương lai”), còn trên thực tế, điều đó thể hiện trong các vở opera của Wagner sau này như “Tristan và Isolde”, bộ tứ “Der Ring des Nibelungen” và những huyền bí của vở “Parsifal”.

Để nghe một mạch hết opera “Parsifal”, cần có trang thiết bị tốt vì nó dài (khoảng hơn 4h, 5LP hoặc 4CD). Người nghe, nhất là người nghe Việt Nam, không nên cố gắng nghe một lần hết tác phẩm này mà có thể chia ra thành các phần để nghe làm nhiều lần (chẳng hạn, chia theo màn). Các bộ đĩa như opera “Parsifal” thường được xuất bản kèm lời giới thiệu và libretto. Tốt nhất là nghiên cứu thông tin này trước (hoặc đọc trong thời gian nghe nháp). Nghe nháp với các tác phẩm lớn, nhất là với opera là một việc hầu như bắt buộc để cảm thụ được sâu hơn với tác phẩm. Có một cách nhanh chóng hơn để thâm nhập vào tác phẩm là mua nghe băng đĩa ghi các tiết mục nổi bật (Highlight) chọn ra từ tác phẩm là các tiết mục thành công và dễ nghe nhất rồi mới mua nghe toàn bộ tác phẩm. Nghe nháp qua Youtube để hình ảnh hỗ trợ lĩnh hội rồi nghe chính thức cũng rất tốt. Vì giá trị to lớn của một vở opera đỉnh cao, việc nghe hiểu được nó là vô cùng đáng quý.

Nghe với: Mâm Clearaudio Concept, kim MC Concept, phono box Smart Phono của Clearaudio; dây tín hiệu Kimber Kable; Máy nâng cấp âm thanh BSG QOL, dây tín hiệu Synergistic Research Au-79; Ampli Rogue Audio Cronus Magnum, dây nguồn Synergistic Research SR20; Loa Infinity Studio Monitor 150, dây loa Analysis Plus Oval 12; cục điều âm của Totem Audio. Biến áp cách ly ACME, lọc điện APC.

Box 5 LP: Richard Wagner – Parsifal – Peter Hofmann, Dunja Vejzovic, Kurt Moll, Jose van Dam, Siegmund Nimsgern, Victor von Halem, Chor der Deutschen Oper Berlin, Berliner Philharmoniker, Herbert von Karajan (chỉ huy) (đĩa của NXB Deutsche Grammophon, Tây Đức, 1981).

BÀI VIẾT Khác:

Gửi nhận xét

Đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận