Thơ văn
Văn học - Nghệ thuật - Thơ văn - TAY ÁO ĐEN
1
User avatar
Administrator
Administrator
admin - 12/05/2018 06:38
   
TAY ÁO ĐEN

Tôi gọi cái áo đó là đen nhưng kỳ thực nó có màu xanh sậm, "sọc" đen. Trước đó, nó đã là chiếc áo đẹp nhất của tôi suốt tuổi ấu thơ, nó mang màu trứng sáo... Tôi không bao giờ quên nó. Nó làm bằng một loại vải đặc biệt, rất bền.

 

Ông nội tôi là một người có chiếc áo ba-đờ-suy màu xám đen đắt tiền đến nỗi khi Nội mua nó dùng, cả làng lè lưỡi. Nội tôi không phải là người chủ trương nhịn ăn để mặc nên việc làm này khiến nhiều người phải nghĩ. Người lớn nói, Nội mua diện chiếc áo này ngay sau ngày Nội xây được nhà cho mẹ (cụ bà tôi), vợ (bà nội tôi) và các con (cha và chú tôi), các cháu (chúng tôi). Người xưa có câu "một năm làm nhà, ba năm làm cửa" vận vào hoàn cảnh của Nội, tôi thấy gần như đúng.

 

Đó là căn nhà ngói ba gian, một trái lợp rạ loại đơn sơ nhất và chỉ có mành mành mà không có cửa. Trong nhà, nội kê gian giữa một chiếc phản gụ ngay trước bàn thờ có bộ đỉnh đồng. Bộ đỉnh là phần thừa kế của cụ nội tôi cho Nội, chủ yếu để trưng và dùng cho việc thờ cúng. Phản gụ rất nặng nên trộm không dễ gì lấy đi. Nhưng bộ đỉnh thì theo chúng tôi bây giờ nhớ lại, hoàn toàn có thể bị đánh cắp một cách dễ dàng. Ấy vậy mà, Nội không dùng hết số tiền còn lại để làm cửa giả cho chắc chắn mà lại đi mua áo...

 

Ông nội là một trong hai người con trai của cụ nội tôi. Cụ nội tôi còn có đến 5 bà cô nữa, trong đó có một bà là chị của Nội còn 4 bà là em gái Nội. Tôi biết cụ bà vì  trước khi cụ mất, tôi đã là đứa trẻ biết nghịch ngợm, nô đùa toàn trò dại dột. Ai lại, cứ đi lấy mảnh sành đập nhọn, khoét vào tường cổng đất nệm những lỗ sâu kèn loang lổ, nham nhở. Cụ bà thường đi chân không, thoắt cái từ trong nhà xuất hiện ngay cổng làm chúng tôi sợ chạy bạt mạng ra ngoài ngõ vắng. Cụ thường vuốt ve cái thành cổng và đe nẹt: "Hư quá, chúng mày làm hỏng hết cả cổng. Để tao bảo ông chúng mày cho ăn đòn mới được". Thế nên, mặc dù không bao giờ Nội dùng roi mây đánh chúng tôi vì những tội loại này, chúng tôi rất sợ Nội.

 

Tôi không biết cụ ông vì Cụ mất trước khi tôi ra đời khá lâu. Cha tôi kể, Cụ là một người thợ rèn giỏi, hay lên miện ngược rèn bán nông cụ, dao rựa... Nội thường được Cụ cho theo học nghề và Nội cũng rất rành nghề rèn. Thế nhưng, khi Cụ mất, Nội lại không theo nghề của Cụ. Nội bảo, đó là nghề lương thiện, triển vọng nhưng ngặt nỗi, theo nghề này suốt đời không được mặc quần lành áo lặn. Có lẽ, Nội phải xót cụ và nghề rèn lắm mới phát biểu như thế. Nội là người phải đứng ra thu xếp gia đình từ hồi còn trẻ. Gia đình của Nội cũng lớn lắm: Ngoài người mẹ (cụ bà của tôi), Nội còn vợ và 7 người con 4 trai 3 gái.

 

Quê tôi có nghề dệt vải. Nhà Nội cũng có một cái khung cửi loại nhỏ. Cả nhà biết dệt và cả làng vang tiếng thoi đưa. Nhờ vậy, mặc cho cảnh nghề nông thiếu ruộng, gia đình của Nội vẫn vượt qua được cả những thời kỳ khó khăn nhất ở các làng quê những năm trước 1945. Nội có công rất lớn trong chuyện này với gia đình và với làng vì chính Nội đã theo đường lên ngược của cha mình hồi trước mà mở ra hướng làm ăn mới: bán vải lên rừng, mua gỗ về xuôi bán cho những người đóng khung cửi dệt... Cả nhà Nội nhờ vậy cũng có đủ tiền sống qua những ngày đói khổ nhất. Nội còn tìm mọi cách cho các con của Nội được học không nhiều thì ít. Thế nên, đến tận khi hoà bình lập lại 1954, Nội mới xây được nhà và mua được chiếc áo ba-đờ-suy kia...

 

Cha vì bỏ nhà đi làm cách mạng vào giữa năm 1945 vào lúc còn non nhiều tuổi nên cũng chưa được học đến đầu đến đũa. Với lại, lúc cha bỏ nhà ra đi cũng là lúc đất nước cực kỳ khó khăn, thiên hạ chết đói đến cả triệu người. Cha quyết định làm một cái gì đó có tương lai hơn là cái Nội làm. Cha không xin ý kiến Nội vì sợ lộ. Cha gặp Mẹ trong kháng chiến chống Pháp. Hoà bình lập lại năm 1954, cha mẹ cưới nhau ở trên Thái Nguyên. Cha báo cho Nội và Ngoại (ông ngoại tôi). Nội không giận Cha chuyện tự ý lấy vợ vì điều đó trở nên vô nghĩa với Nội sau 9 năm đằng đẵng tưởng là đã mất Cha rồi. Nội và Ngoại vì thế cũng gặp nhau lần đầu ở trên chiến khu. Hơn hai mươi năm sau, cha mới được Nhà nước cho đi học thêm một cách chính quy ở Trường Phổ thông lao động Trung ương. Mẹ cũng vậy, hơn hai mươi năm sau mẹ mới được theo học các lớp bổ túc ban đêm để hoàn thành học vấn Phổ thông...

 

Thế hệ chúng tôi cứ mỗi độ Tết về đều có những niềm khao khát chung về những tấm áo mới. Niềm khát khao chung nhưng đôi khi lại làm chia rẽ mọi người. Đứa nào đứa nấy thầm cầu mong sẽ được mẹ mua cho một tấm áo mới và sẵn sàng phong phanh diện nó bất chấp trời xuân nhiều khi vẫn còn rét ngọt. Chẳng có năm nào tất cả anh em trong nhà cùng có áo mới. Thường thì anh có áo mới và lục tìm cho em một cái áo cũ. Tôi không phải là anh cả trong nhà nên mơ ước đấy nhưng cũng chỉ là để mà mơ ước thôi.

 

Cứ mỗi độ xuân về, Nội lại mang chiếc áo ba-đờ-suy ra xem. Tôi không thấy nó đẹp vì cứ thấy Nội diện vào, chúng tôi lại càng thấy sợ Nội hơn. Bình thường, chúng tôi cứ nhìn thấy Nội là đã thấy sợ lắm rồi. Nội cũng chỉ diện nó vào lúc cúng Tết. Khi người nhà đã sắp đặt xong mọi thứ trên bàn thờ thì cũng là lúc Nội mặc gần xong tấm áo. Nội xem lại lần cuối và sửa cho ngay những món đồ cúng. Nội gài nút cổ, xem lại tay áo rồi nhẹ nhàng bước lên phản gụ. Nội đứng. Nội lấy mấy nén hương. Bao giờ cũng vậy, nội không châm hương ngay mà sửa cho chúng đều nhau. Nội lại ngắm mình lần cuối từ cổ xuống chân, không bao giờ Nội để chuỗi cúc áo chưa được gài thật kỹ. Rồi Nội mới run run mở hở chiếc bóng đèn Hoa Kỳ đang rung rung một ngọn lửa nhỏ châm hương. Không bao giờ Nội để hương quệt tắt ngọn lửa. Động tác này hoá ra rất khó. Và, Nội nói gì đó như chỉ có một mình Nội nghe được mà thôi...

 

Chúng tôi, cả lũ lén nhìn Nội và ém hơi chờ. Là vì, phải chờ hương cháy hết. Hương cháy hết, Nội sẽ xin các cụ cho các cháu ăn. Các cô tôi năm nào cũng giải thích với chúng tôi như vậy. Cả năm cũng chỉ có mấy ngày Tết là chúng tôi thấy thực sự được ăn. Đứa nào cũng vậy, sau Tết lên cân và quên dần đi ước ao có một cái áo mới. Trừ tôi... Tôi dần dần hiểu ra một cái gì đó liên quan đến áo. Tôi mơ có một cái áo mặc mãi không cũ...

 

Thế rồi, tôi cũng đã lên mười, học đến lớp ba, tức là cũng gần hết tiểu học. Thế hệ cha tôi phần lớn phải dừng lại ở cấp học này vì rất ít nhà có điều kiện cho con học lên cao hơn. Thế hệ của tôi quả là may mắn hơn nhiều. Tuy nhiên, được đi học là một chuyện, được có một cái áo mới lại là chuyện khác. Dạo đó, đang là năm 1967, chiến tranh ngày một to hơn. Đất nước ngày một khó khăn hơn. Tôi chẳng có cái áo nào lành lặn, kín cúc. Người lớn trêu tôi: "Trông mày cứ như thằng xã xệ". Tôi không biết thế nghĩa là gì nhưng hiểu là cái gì đó xấu căn cứ vào giọng chê bai, nhiếc móc. Xấu hổ mà chẳng biết làm gì. Mơ ước vẫn là mơ ước...

 

Dạo này, tôi đang ở với Cha tại một làng quê, Yên Phú, Yên Mỹ, Hưng Yên. Cha đang đi học và nuôi tôi, em gái kế tôi đang học vỡ lòng... . Mẹ, anh cả và em trai ở quê nội Hà Tây. Cha mẹ chia gia đình ra làm đôi cũng còn vì sợ chiến tranh cướp đi tất cả.. . Để phụ cha có đủ cái nấu ăn, tôi theo trẻ con trong làng đi kiếm gốc đay làm củi, lặn hụp giữa dòng sông đào Bắc Hưng Hải mò bắt những con trai trai mang về nấu cháo. Làm gì cũng dở, trẻ con trong làng kiếm được mười gốc củi đay thì tôi chỉ kiếm được hai, ba. Chẳng mấy chốc làng không còn gốc đay để mót.

 

Nhiều đêm, cha còn dắt tôi đi theo ra cánh đồng lạc (đậu phộng) bắt cóc về làm thịt ăn. Thịt cóc bổ, chữa được một số bệnh nhưng ăn vào cũng có thể gây chết cả người. Cha làm thịt cóc theo bài theo bản và rất cẩn thận nhưng rồi cũng phải bỏ cái thực đơn nguy hiểm này khi một lần, tôi bị đi đái rắt. Dường như, ngoài giờ học của mình, Cha chẳng còn thì giờ ôn bài. Cha tìm mọi cách nghĩ ra cái ăn cho ba cha con, lại còn phải để dành tiền cho chúng tôi về thăm mẹ, thăm quê nữa chứ. Đồng lương đi học thu vén được vậy cũng là quá giỏi với cha mà mãi tận bây giờ tôi mới thật cảm thông và mến phục cha.

 

Thế rồi, tôi cũng học hết lớp 3, lại là học sinh tiên tiến nữa.  Có lẽ vì thế mà một hôm, Cha mang về cho tôi một cái áo mới: Bố thưởng cho con cái này! Cứ như là chuyện thần tiên vậy. Cha dắt tôi ra ngoài sân chỉ lên nền trời xanh: "Người ta bảo áo màu xanh trứng sáo nhưng bố thấy nó có màu xanh da trời. À, con gọi nó là áo xanh hoà bình cũng được". Tôi thích nó quá đi mất, đến nỗi đâu có dám mặc ngay. Liếc nhìn sang, tôi thấy Cha bảo đứa em gái: Tết có tiền bố mua cho con sau. Nó cũng rất vui nhưng lại nói: "Anh thật là sướng nhé" với giọng khác ngày thường làm tôi cũng thấy chạnh lòng.

 

Một thời, có đến nhiều năm liền, cứ mỗi độ Tết, chúng tôi lại được về quê Nội. Người lớn lén chơi tổ tôm. Trò chơi tao nhã, trí tuệ này mai một một phần vì có thời, nó bị cấm đoán, dị nghị. Phần khác vì nó thực sự khó chơi, cần tới 5 người chơi và một người dự bị chia bài. Trò chơi có đến 120 quân bài khác nhau cơ mà, làm sao tính hết nước cho được. Cha kể, Nội chơi tổ tôm rất giỏi mà mãi sau này, khi Nội sắp mất mới thấy Nội khơi lại cho vui tuổi già. Tôi thấy Nội và các bạn Nội thường đến nhà Nội ngồi chơi tổ tôm trên sập gụ. Có nhiều hôm không tụ tập đủ 5, các ông rất buồn kiểm lại số người còn biết tổ tôm trong làng. Mấy tháng, trong làng lại mất đi một cụ ông... Cha và chú út nhà tôi đều là cán bộ nên cứ cố khuyên Nội gương mẫu không chơi tổ tôm nữa. Nội quát: "Ta không đánh bạc!!!" làm Cha và Chú không làm thế nào được nên rất là buồn.

 

Cuộc đời vất vả mà sức Nội không nhiều. Quê tôi gần đê Dày, một đoạn xung yếu của con đê hữu ngạn sông Hồng ngay Hà Nội, mạn Hà Nội ở phía thượng lưu. Năm nào cũng vậy, trai làng phải đi đắp đê. Nội cũng đi nhưng không được mấy năm. Người làng biết nên cũng không ép Nội. Thế nhưng, hồi đó còn là thời thuộc Pháp. Người Pháp cũng tỏ ra quan tâm đến chuyện giữ đê. Những năm nước to, người Pháp xua lính đi vét từng người đàn ông còn lại trong làng để đem lên đê. Nội biết hết từ trước và thường Tết xong là đã bắt đầu để râu thật dài, thật rậm. Hễ cứ có lính (da trắng có, da đen có) đến thì Nội khom lưng như các cụ già khoát tay ra phía vườn chỉ khóm tre xanh. Nội tỏ ý cho mấy anh lính Tây biết mình đau yếu không đi hộ đê được nhưng cũng sẵn sàng cho họ vào chặt bất cứ cây nào... Lần nào cũng vậy, lính Tây bồng súng vào xộc vào ngó ngó bụi tre còm rồi xì xồ rủ nhau tiếp tục đi càn. Lính Tây cũng có thể lười, cũng có thể bận, cũng có thể không biết chặt tre nên khóm tre còm vẫn nguyên và Nội cũng được yên.

 

Nội không đủ sức khoẻ đắp đê nhưng lại đủ sức ngồi cả đêm chơi trò tổ tôm vào mỗi độ xuân về... Bạn bè cụ là trang lứa trong làng, bất kể ai nhưng Nội thường chơi tổ tôm với ông Hương Ngạn, ông Quỹ Bự, ông Đồ Phùng... là những người thân thích và được người dân trong làng nể trọng. Đến đầu những năm 1970, Nội không còn tìm đủ bạn chơi tổ tôm nữa. Trai làng học được các cụ không nhiều lén tổ chức chơi riêng và Nội chẳng bao giờ chịu ngồi cùng họ một chiếu tổ tôm. Nội buồn và mất sức khá nhanh. Nội mất đầu năm 1973, trước Tết hơn một tháng ngay trước ngày miền Bắc hoàn toàn không còn bị máy bay Mỹ ném bom nữa.

 

Tết đó, cả nhà buồn lắm. Có trò chơi tam cúc là dễ, dành cho đàn bà, trẻ con vẫn được người lớn cho trẻ con chơi. Tam cúc chỉ có 32 quân bài như trong cờ tướng 32 quân cờ, rất dễ nhớ và rất dễ chơi. Thế mà, suốt cả tuổi thơ tôi không chơi nổi trò chơi này. Quân bài bé tí, lại cầm vụng tay, lộ hết nên thua. Có một Tết, chúng tôi lén chơi ăn tiền và tôi bị nợ một thằng trong làng một hào mà mãi cho đến tận bây giờ vẫn chưa trả được. Nghĩ ra một trò chơi khác ngoài mấy quân bài quả là chuyện khó. Khoảng thời gian này, ở Việt Nam đã bắt đầu phổ cập trò chơi tú lơ khơ dựa trên 54 quân bài cơ, rô, bích, nhép của Tây phương, đơn giản hơn, ít người tham gia hơn.

 

Cha không đủ trình độ dạy lại cho đời sau trò chơi tổ tôm nhưng trong trò tú lơ khơ, Cha thuộc bậc thầy. Tôi biết rõ vì tôi học được trò này từ cha, hồi theo cha đi học bên tận Hưng Yên. Cha cứ qua một kỳ thi lại theo bạn bè chơi tú lơ khơ. Tôi hay theo Cha vì chẳng biết đi đâu. Nhóm của Cha và bạn bè không chơi ăn tiền (luật cấm), không chơi ăn kẹo như  một số người mà chỉ chơi vì danh dự thôi. Có một lần, vì danh dự mà Cha chịu về ba trong khi bài rất đẹp để lừa bắt một chú chỉ còn một quân bài rất to (Q trưởng, to thứ ba trong bộ bài khó chơi) chịu bét. Hôm ấy, tôi thấy chú ấy quẳng ngửa con bài này ra với mọi người với nụ cười đắc thắng. Cha khuyên chú ấy cầm bài lên vì chưa đến lượt ăn, chú ấy cãi "còn gì nữa mà phải chờ đến lượt!". Cha để yên cho hai người thay phiên nhau tống hết quân của mình về nhất, về nhì rồi mới quay sang ra đòn K trưởng rồi A, A trưởng và lia liạ tấn sang những quân trái chất cho đến khi chú ấy không còn đỡ được nữa, về bét.  Sau ván đấy, mọi người hậm hực rồi giải tán. Tôi sợ xanh mặt vì thấy người lớn không vui với nhau nhưng những thầm phục Cha lắm...

 

Chúng tôi, một lũ nhóc cũng ty toe chơi. Hè rồi, càng được chơi. So với Cha thì tôi không thể nào bằng vì chơi với Cha ván nào cũng thua, kể cả khi bài đẹp. Nhưng, chơi với lũ trẻ trong làng thì tôi chưa hề bị bét bao giờ. Quân bài tú lơ khơ đủ lớn để tôi có thể giấu bài kỹ hơn trong trò chơi tam cúc. Tôi không bao giờ lén nhìn quân bài của người khác và không nghe bọn thầy dùi bóng gió, trong trò này, tôi tự tin lắm.

 

Hè đó vẫn là  hè 1967. Hôm đó, cha chưa học xong. Tôi lấy áo xanh trứng sáo ra xem. Vải nó bóng, mịn, khó nhàu... Nâng niu một lúc, nghĩ thế nào, tôi diện nó. Tôi chạy ra bờ sông, nhìn lên nền trời xanh biếc...

 

Có một đám trẻ đang chơi tú lơ khơ ngay bờ sông dưới một lùm tre. Chúng nó chơi bôi nhọ nồi!!! Chúng nó mang cả nồi nấu cơm, ấm đun nước và chảo gang, ca nước bày biện trông thấy mà sợ quá đi mất. Người lớn mà bắt được thì... Chúng nó thấy tôi từ xa đã cười cười vẫy tay gạ gẫm. Tôi thấy thèm được chơi mấy ván nhưng không thích chơi bôi nhọ nồi. Tôi xán lại gần bảo: "Bọn mình chơi vì danh dự đi, đừng bôi nhọ nồi..."

 

-Ê, lại sợ bố đánh chứ gì? Đồ nhát gan! Thôi, không cho nó chơi nữa. Chia bài đi!- Một thằng bạn người làng cao hơn tôi nửa cái đầu, mặt đầy vết nhọ dường như đang méo xệch nom rất khệnh khạng nói.

 

Tôi tức quá, nó lại bảo mình là đồ nhát gan. Tôi không sợ bị bôi nhọ nồi rồi bố mới đánh mà tôi sợ chơi trò nghịch ngợm quá đáng này bố bắt được là lập tức đánh! Nhưng, tôi cũng thầm nghĩ, chẳng nhẽ lại chịu bét? Bét mới bị bôi cơ mà. Trò này, thằng nhất bôi thằng bét, thằng nhì ngồi nhìn, thằng ba chia bài.  Mà, giờ này, bố vẫn ở trên trường. Tôi hậm hực, năn nỉ:

 

-Đã thế, bọn mày ra sông rửa mặt đi, bọn mình sẽ chơi từ đầu.  Chỉ cần không bét là được chứ gì? Mà, phải không được chơi ăn gian, xong chưa?

 

Thằng lớn cười méo xệch ra lệnh thằng chia bài "chia xong để im đó!", lại quát thằng vừa bị bét "biến!", lại hỏi tôi: "Tao là một, mày là một, thằng này (nó vừa nhì xong), thằng này (thằng đang chia bài) được chưa?". Tôi đồng ý ngay vì xử thế là đúng luật chơi của chúng tôi hồi đó (trong trò chơi chỉ vì danh dự, thường cứ bét là phải ra ngồi chầu rìa và chỉ cần bị bắt ngồi chầu rìa thôi là cũng tức lắm rồi).

 

Cả bốn thằng vui vẻ ra sông rửa mặt. Chúng nó lấy cỏ xoa lên những vết khó phai. Một lúc chỉnh tề quay lại. Thằng lớn nghiêm nghị lắm, chỉ tay xuống 4 đống bài úp: "Chọn đi". Tôi ngồi ngay xuống đống bài gần mình nhất, thận trọng xoè bài. Bọn nó, như đúng cam kết không chơi ăn gian. Thậm chí, lúc đầu còn rất từ tốn như tôi vậy. Dần dà, mãi mấy ván không hạ được tôi, bọn nó bắt đầu khiêu khích nhưng không chơi ăn gian, không thằng nào báo bài mình cho thằng khác, cũng không thằng nào lén nhìn bài thằng khác, kể cả bài của tôi. Thằng chầu rìa còn ước ao được chơi cùng.  Nhìn nó là tôi biết nó đang nghĩ có bị vài vết cũng không sao. Tôi thì chỉ nhắm vào thằng lớn, bằng mọi giá phải cho nó về bét càng nhiều lần càng tốt. Thỉnh thoảng tôi cũng lỡ nhất để phải bôi một thằng nào đó. Tôi quệt nhẹ tay lên cái ấm đun nước cho dễ và bôi qua loa.

 

Thấm thoắt, mặt thằng nào cũng đầy vết nhẹm. Tôi nhìn gương mặt méo mó của chúng nó và bỗng nhớ đến đòn cha. Ngộ nhỡ cha được nghỉ học sớm về không thấy tôi đâu đi tìm thì sao? Có nhiều lần kiểm tra, Cha về sớm hơn bình thường vì Cha làm bài xong sớm đấy thôi. Đó là tôi nghe Cha khoe vậy chứ sau này, tôi suy luận hơi khác: Cũng có thể cha nóng ruột làm vội cho xong để về xem các con cơm nước thế nào... Cha con đi sơ tán ở nhờ... Tôi vụng về nấu cơm bếp rơm... Cha bao lần nhắc nhở và rất ngại ngộ nhỡ tôi làm cháy bếp của nhà bà chủ...

 

Tôi xin thôi. Thằng lớn liền quát: "Không được, đồ chơi ăn non, ngồi xuống!!!".  Tôi tức quá đi mất vì nó lại bảo là tôi chơi ăn non. Tôi định cãi thì nó không nói gì nữa, chỉ lườm, ý bảo "có nghe tao không hay.. ."! Thế là, tôi đành  nhận ăn đòn cha còn hơn là bị bọn nó "quây". Đã bảo mà, chót dại. Thằng chia bài vừa dứt tay, thằng lớn không nói năng gì hậm hực xoè bài. Đúng lúc này có tiếng máy bay. Máy bay thời đó toàn là máy bay chiến đấu. Kẻng làng báo động. Tôi sợ quá và cũng mừng nữa, giục cả bọn bỏ cuộc tìm hầm trú ẩn. Thằng lớn liền quát: "Ngồi im! Đừng có mà lấy cớ!!!". Tôi cãi ngay vì phần đúng thuộc về mình. "Làng này chưa ai chết vì bom cả"- nó lại gừ tôi. Tôi không còn một chút mừng vui nào nữa, xin nó cho thôi không ngộ nhỡ.. .  Vừa lúc, máy bay đã bay xa, về phía Hà Nội rồi.

 

Không làm thế nào được, tôi xoè bài. Toàn là những quân bài đen nhép, bích mà chủ bài giờ lại đang là cơ. Tôi cố trấn tĩnh bản thân. Nghe lời cha, không đỡ được thì ôm quân chờ lượt. Thằng lớn đã về nhất. Mà vẫn chưa đến lượt mình tấn, vẫn cứ phải ôm thêm quân. Thêm thằng về nhì, tôi hy vọng thế nào cũng tới lượt mình. Thế mà, thằng đối diện lúc này chỉ còn vài quân. Nó đã định ngửa bài nhưng thằng lớn đoán ý, ra hiệu cấm cho khỏi bị kêu là chơi hiếu thắng. Tôi không còn hồn vía đâu mà đoán quân bài còn lại của nó... Tôi xoè bài đặt trước mặt nó nói: Tớ thua!

 

Thằng lớn phì cười. Mấy thằng còn lại cười theo. Tôi im lặng chờ. Thằng lớn phì cười. Bọn còn lại cười theo. Tôi cáu: Bôi thì bôi, nhanh nhanh để cho tớ về. Thằng lớn bảo: Được! Tao không bôi để thằng chầu rìa bôi được không? Tôi bảo ngay là được cho xong chuyện. Nhưng thằng chầu rìa nghĩ thế nào lại không chịu bôi vì nó đâu có thắng tôi. Thằng nhì bôi được không?- thằng lớn lại hỏi tôi. Tôi tức cái kiểu bắt nạt của nó quá, gầm lên: Thằng nào bôi cũng được, đằng nào chẳng phải rửa mặt!! Thế là.. .

 

Bọn nó cả lũ hoan hô tôi và bắt đầu một màn "trang điểm" thực sự. Mỗi thằng một nhát. Thằng thì quệt tay lên ấm đun nước, thằng thì quệt tay lên đáy nồi cơm. Riêng thằng lớn, nó thọc đầu ngón trỏ nào ca nước rồi mới quệt lên đít chảo gang, nó làm một vệt ngắn ngang miệng phía trên: "Ra sông rửa mặt!". Tôi làm như chúng nó làm nhưng không biết thế đã sạch chưa. Lững thững lên bờ, thằng chầu rìa chạy ra đón. Nó bảo tôi là mặt chưa sạch và lôi đâu ra một tấm gương tròn nhỏ phổ biến thời bấy giờ cho tôi soi. Tôi không biết làm thế nào. Tôi bật khóc quệt cả hai tay lên miệng lau và thằng lớn đứng đó, sững người. Nó không ngờ tôi lại dại đến thế. Nó đứng như trời trồng một lúc rồi ra hiệu cho bọn còn lại giải tán. Tôi lững thững vừa khóc vừa lê về nhà. Thằng lớn lẽo đẽo theo sau một đoạn rồi đứng lại nhìn cho đến khi tôi về khuất một lùm tre to.

 

Cha đã về từ trước đó nhưng không đi tìm tụi tôi mà đang nhóm lửa nấu cơm. Cha thường về lúc cơm gần chín, chui vào bếp chỉ để kiểm tra xem cơm tôi đã nấu chín chưa và rất ít khi cha nhóm lửa nấu cơm.

 

Tôi nhìn tay áo. Nó bị nhọ nồi, loại nhọ nồi có mỡ dính lên. Tôi không biết nói thế nào, lại khóc. Cha chạy ra. Tôi nói luôn: "Chúng con chơi tú lơ khơ bôi nhọ nồi". Cha nhìn tôi hồi lâu. Cha không hỏi gì thêm. Cha bảo: "Con làm phí chiếc áo rồi, cởi ra, để bố đi nhuộm cho con".  Mấy ngày sau, tôi và em gái được cha cho về quê Nội. Cha cũng vừa tốt nghiệp hạng ưu học vấn Phổ thông./.

 

Tái bút: Không hiểu vì sao, khi tôi viết xong bài này và tập lại đến thuộc lòng đâu vào đấy bản nhạc "Khát vọng" của Tarrega, tôi đã được về Hà Nội, về tận quê cha đất tổ của chính bản thân mình, hưởng trọn vẹn cái gọi là tiết Đại hàn Hà Nội, gặp tận tay mẹ nuôi của cha tôi suốt thời ông chạy theo Kháng chiến. Tôi mang được con trai bé bỏng của mình về với quê ngoại của nó. Thằng bé, nó chuyển thẳng từ biết đi lững thững lên thẳng máy bay siêu âm. Lúc đi Boeing, lúc về, phi cơ tối tân của Liên xô cũ chuyên chở bố con tôi...

1