Thơ văn
Văn học - Nghệ thuật - Thơ văn - MÙA BI…
1
User avatar
Thành viên cấp 2
Thành viên cấp 2
Mozurt - 16/08/2017 15:18
   
MÙA BI…

Lần đầu tiên, tôi được cha cho về quê ngoại, nơi tôi được mẹ sinh ra 40 năm trước là vào đầu thập kỷ 60. Đoạn đường từ Đan Phượng, Hà Đông quê nội đến quê ngoại Duy Tiên không xa nhưng cha và tôi phải đi làm bốn chặng: cha đạp xe đèo tôi ra ga Hàng Cỏ, lên tàu hỏa về Phủ Lý, đạp xe về phía quê, qua đò ngang sông Châu về nhà ngoại ở gần núi Đọi. Khi đó, tôi còn quá bé, chỉ sắp cắp sách đến trường. Tôi hầu như chẳng nhớ gì ngoài lời ru của cậu: “Quê cháu sông Châu, núi Đọi... à ơi”!

Cậu hơn tôi không đến mười tuổi. Nhưng mẹ kể, cậu đã từng giặt tã cho tôi suốt cả muà đông năm tôi được mẹ sanh.

Các lần sau này, tôi thường được cha cho về thăm ngoại từ một hướng khác: từ Hưng Yên vượt sông Hồng sang. Dạo đó, tôi theo cha sơ tán ở một vùng ven con sông đào nổi tiếng Bắc Hưng Hải, tôi đã đi học như thằng nhỏ nhà tôi bây giờ. Cậu là em thứ tám của mẹ, đã xém thành một chàng trai. Cậu lớn và chững chạc lắm.

Thấy tôi thích trò chơi quay, cậu đẽo cho tôi một con đặc biệt bằng gỗ cành lim khô mà cậu tìm được trên núi Đọi:

-Cho chúng nó “hầm”, không sứt mẻ đâu mà sợ - cậu nói rồi bày cho tôi cách chơi quay.

Trò “hầm” quay đại khái như sau: quay nào thua phải nằm “phơi xác” trong một vòng tròn vẽ sẵn trên đất để các quay khác bổ đinh vào đến lõm - đến vỡ và chỉ được cứu ra khỏi vòng theo những quy ước của luật chơi. Tôi tập sao cho quay bổ xuống là quay và quay tít, quay lâu rồi mới dám xin lũ bạn cho chơi. Vậy mà, tôi vẫn thua ngay lần đầu. Bị quay bạn hầm, tôi xót nó lắm. Mỗi lần chẳng may trúng đinh, tôi đều vội nhặt lên coi “vết thương” nó vừa mới bị. Chơi mãi, tôi cũng ván được, ván thua. Tôi ham, chơi cả khi tụi bạn chán bỏ về hết. Đi ngủ tôi cũng mang quay hoặc giấu ở đầu giường.

Thế rôì , một hôm, quay tôi bị trúng nhát đinh trời giáng, văng xuống con mương gần đó. Thằng bạn hơn tuổi tôi mà giờ chỉ còn nhớ mặt, không nhớ rõ tên, nhìn tôi cười đắc thắng. Nó còn định chọc cho tôi tức song nhìn thấy tôi mặt mày tái dần, nó thôi, nhảy xuống ao đối diện mương vớt quay của nó. Tôi không tìm được quay tôi vì nó chìm, mò mãi chẳng được. Hôm ấy, tôi khóc đến khi chẳng còn ai dỗ....

Hè năm đó thật dài với tôi. Nhà ngoại gần sông lắm. Chiều chiều, cậu cho tôi đi tắm ở... bờ sông. Lúc cậu bơi ra xa, giữa dòng sông, tôi bị một cậu họ, con chú con bác với cậu tôi, hơn tôi vài tuổi dìm cho sặc để ... đùa.

-Ai cho mày đánh cháu tao? Liệu hồn nghe chưa! - Cậu túm tóc cậu ấy mà giơ tay dọa .

Lúc đấy tôi thấy là lạ. Cùng là với cháu, chỉ có cậu ruột mới tỏ ra thân thương mình nhất. Cậu họ không định đánh tôi, chỉ chọc trêu thôi... Tôi bỗng thấy buồn không vì bị sặc. Sao cha không về đón tôi? Mùa nghỉ hè năm ấy, tôi ở nhà ngoại đến cả tháng trời.

Cũng những ngày này, đã sang mùa bi. Để “an ủi” tôi, cậu hứa về làm cho tôi một hòn bi đá xịn. Cậu dẫn tôi vào tận sát chân núi, nơi có các người thợ đào đá làm việc sáng chiều, để tìm đá làm bi. Một hòn đá nhỏ vân xanh lọt vào mắt cậu:

- Nó đây rồi, về thôi cháu.

Cậu làm bi khác bọn trẻ trong làng. Cậu không xoáy bi cho tròn bằng cát tút (vỏ đạn). Cậu mài trước cho nhẵn (tất nhiên cũng là sau khi đẽo). Rồi dùng hai lọ peniciline không, kẹp chặt bi vừa mài được, xoáy cho đến khi tròn, nhẵn, bóng, bóng lắm.

Tôi sợ uổng, không dám dùng chơi bắn bi, “hầm” bi với tụi bạn. Tôi chơi nó trong tay, sờ, ngắm không chán - những vân xanh trên nền trắng đục. Đi đâu, làm gì, tôi cũng giữ rịt theo người cho đến hôm, cha về đón tôi. Sắp vào một năm học mới, năm cuối cấp 1 của tôi.

Ngoại sai các dì làm cơm gà. Cậu tiễn cha con tôi rất xa. Đến tận bờ bên này của dòng sông Hồng mênh mông, cả sóng lúc mùa lũ về đỏ ngầu nước cuộn... Bờ bên là thị xã Hưng Yên.

***

Cậu học xong lớp 10 một năm sau đó. Cậu xung vào một Liên Đoàn địa chất. Cậu làm tận Quảng Ninh. Tôi chỉ viết thư về thăm ngoại, không mấy khi viết riêng cho các cậu, các dì như về sau này nên chỉ biết về cậu bập bõm ... thế thôi.

***

Năm đó, Mỹ thôi không ném bom, cả nhà tôi chuyển về thị xã (Hà Đông). Cha đã về Thủ đô làm việc ở Tổng xã (VNTTX, TTXVN bây giờ). Mẹ về UBHC (UBND bây giờ) tỉnh nhà. Tôi vào lớp 7 với mặc cảm của cậu ấm “nhà quê”...

Mãi đến tận lúc này, tôi mới được tập xe, cái xe thiếu nhi Liên Xô, đạp ngược lại là phanh (thắng). Cứ đi học về là tôi lại tập xe, tôi còn cho thằng em lớp hai ngồi sau để tập đèo.

Một hôm, được nghỉ học, về sớm, tôi thấy mẹ không đi làm bằng xe. Tôi lấy xe mẹ, máy thằng em chạy theo. Xe mẹ rất bon, Thống Nhất mà lị... Chúng tôi đi khá xa ra tít ngoại thị và trời bỗng đổ mưa to.

Ướt sạch. Về ăn đòn là cái chắc. Cả hai thằng sợ quá, ngao ngán... Không hiểu vì sao, ý nghĩ bỏ trốn lại đến với tôi khi ở gần Văn Điển, tôi nhìn thấy phía xa đằng trước một đoàn tàu hoả đang xuôi về phương Nam.

-Anh có biết đường không?- thằng bé em tôi sợ sệt hỏi.
-Cứ đi, anh biết mà!

Tôi chỉ nghĩ, về đến Phủ Lý là hỏi được đường về núi Đọi. Còn bao giờ về đến Phủ Lý đã có cột cây số ven đường chỉ dẫn. Đi chưa được bao lâu, em tôi kêu đau đít. Xuống ven đường lấy lá cây lót gác-ba-ga, tôi mới chợt nghĩ ra “cách” nói với ngoại lúc về đến quê.

Ấy thế nhưng lúc qua cái cầu tre vừa hẹp, vừa dài bắc qua sông Châu, tôi không đưa em về nhà ngoại ngay mà rẽ vào nhà em của ngoại, dì của mẹ. Bà ở ngay bờ sông Châu. Từ trong sân, bà giật mình nhìn thấy hai thằng tụi tôi như quân thất trận ở đâu xuất hiện sau hai hàng cây um tùm dưới giàn mướp đầy lá, quả:

-Quân giời đánh, ăn mặc thế này mà về chơi với bà. Bu thầy chúng mày đâu rồi, đi đằng sau hả?...

Thế mà bà lại tin là chúng tôi được cha mẹ cho về thăm quê, báo tin cả nhà giờ đã có nhà trên tỉnh. Bà tin chúng tôi mất quà cộng quần dài áo cánh lúc nghỉ dọc đường... Bà cho chúng tôi ăn lúc đã về chiều. Chúng tôi ăn hỗn như một bọn chết đói...

Mãi gần tối, bà mới đưa chúng tôi về nhà ngoại. Không ai trong cả họ nghĩ ra chúng tôi trốn nhà. Ngoại kêu người nhà đi tìm quần áo cũ cuả các cậu cho tụi tôi thay. Ngoại còn dặn bà ngoại ngày mai đi chợ thế nào...

***
Cả họ nội nhà tôi đi mò hai đứa khắp các ao, hồ, sông ngòi suốt dọc đường từ thị xã về quê nội. Họ còn chia nhau đi tìm nơi các ruộng mía, nương ngô ven bờ sông Đáy, gần chùa Thày, nơi hè trước đó tôi được về cắm trại. Suốt ba ngày, cha không ăn uống gì, cùng mẹ (mẹ khóc sưng mắt) ngẩn ngơ đi đi, nghĩ nghĩ tìm cách tìm chúng tôi. Ở trên Bộ (Bộ Công an), các bác hỏi cha về lần cuối tôi về quê ngoại theo con đường có thể đi lần trốn nhà ấy. Tất cả quả quyết là chúng tôi không thể theo con đường đã đi.

Cha ngại, mấy lần định lên nhờ Đài phát thanh nhưng cứ đến cổng 58 (58 Quán Sứ - Hà Nội) cha lại không vào. Đài truyền thanh tỉnh phát tin hai đứa tụi tôi đi lạc mỗi ngày ba lần. Chẳng ai tìm ra manh mối. Trừ cậu, lúc đó tình cờ cùng bạn về phép ghé thăm chỗ cha tôi làm việc.

-Em nghĩ là cháu đang ở dưới quê. Thằng khác em không, cháu nó, em tin là về được bằng đường Phủ Lý.

Bạn cậu là phóng viên cuả VNTTX đóng ở Quảng Ninh gần Liên Đoàn cậu, không nói nhiều, xin cơ quan lập tức cho hai người phóng xe đi ngay...

***

Đêm đó, như hai đêm trước, tôi trằn trọc, không biết “ra tự thú” thế nào. Ngoại già rồi, ngoại rất thương và chăm chút chúng tôi.

***

Tôi giật mình nghe có tiếng xe lao thẳng vào sân.

-Có chúng nó đây rồi, anh! - cậu reo.

Ngoại buồn. Ngoại nói tôi ngủ tiếp...

Sáng sau, cậu lay tôi dậy từ lúc gà vừa mới gáy. Ngoại cũng đã thức từ lâu, đang ngồi bên bàn trà với chú phóng viên, chỉ huy nhà thịt gà làm cơm. Chú phóng viên ra hiệu để tôi cùng lặng lẽ ăn trước.

***

Xe ra đến quốc lộ 1A ở thị trấn Đồng Văn lúc trời tảng sáng. Núi Đọi mờ mờ phía sau lưng tôi. Núi Điệp thấp hơn, gần hơn nên nhìn thấy nó khá dễ. Chưa bao giờ tôi được đi mô tô như lần đó và chú phóng viên phóng cứ như bay. Thỉnh thoảng chú nói như hét để tôi ôm chặt lấy chú. Về đến nhà lúc mặt trời mới lên khỏi rặng xà cừ trên phố, tôi không nhớ lúc đó mình sợ sệt đến cỡ nào. Đứa em út lúc này chỉ mới biết đi, nói chập nói chững lúc tựa ngoài bậu cửa nhìn tôi chằm chằm, ngơ ngơ, ngác ngác:

-Cho anh chết đi, ăn đòn nhé, đau lắm cho mà xem...

Cả nhà, cả họ tựu về rất đông nên tôi không biết khi nào mới bị ăn đòn. Có bà cô cuả cha còn nói “nhà mày như có đám cưới!”. Cha chẳng hỏi tôi câu nào. Mẹ khóc hỏi “em con bao giờ lên?”. Cậu đưa em tôi lên lúc xế trưa bằng tàu hỏa, nó cũng chẳng dám nhìn ai, cứ nép vào bên cậu. Đến tối, cậu lại xuôi, có chú phóng viên đưa cậu ra ga.

***

Một năm sau, trong lần nghỉ còn chưa hết phép, cậu được tin cơ quan gọi về để đi bộ đội. Cậu họ, dìm tôi thuở nào, đi cùng với cậu. Hai anh em cậu đèo nhau, ghé chào mẹ (không có cha ở nhà) và các cháu tụi tôi rồi lại đi ngay. Các cậu đi hai ngày một đêm liên tục thì đến nơi. Cậu kịp giờ nhập ngũ.

Mỹ lại ném bom. Cậu đi B. Năm đó là 1972. Tháng đó là tháng tư. Ngày đó, tôi chưa kịp học xong lớp 8. Nhà tôi lại đi sơ tán. Tôi đánh mất nhiều đồ chơi trong chính dịp này. Mất cả viên bi thuở ấu thơ...

***

Cậu không về. Mọi người biết tin này sau năm 1975. Đến năm 1980, đi học xa về tôi mới biết, mới đủ cớ để tin là mình mất cậu. Trước đó, tôi đã được cha cho biết ngoại mất vì già yếu. Lúc này, tôi mới biết thêm, ngoại mất còn vì ngoại buồn mất cậu...

Bao nhiêu năm sau, tôi vẫn không hiểu, sao lúc chiến tranh, mình chẳng thấy mất mát gì ngoài những lần mất quay, mất bi... Sao phải đến hoà bình mới thấy thế nào là mất mát?

***

Năm rồi, thằng nhỏ con tôi học hết tiểu học với thành tích cấp quốc gia. Tôi cho bé vé bay khứ hồi, để tự nó về thăm ông bà ngoại đang ở ngoài Hà Nội. Cu cậu đi Airbus ra quê cả một tháng hè và về trên một cái Boeing, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn lên hẳn. Cháu còn biết làm nhiều việc nhà vì tôi xin ông bà , các dì dạy cháu.

Hôm chuẩn bị cho con đi học hè, tôi thấy hộp bi nằm gọn lỏn trong cặp, còn nguyên rất nhiều bi mà nó vẫn chơi... một mình trên giường nệm (nó không thích “hầm” bi, thậm chí không chơi trên sàn nhà sợ mẻ, uổng bi). Tôi bỗng nhớ, có lần đón con tan trường về, thấy con khoe: “Bố ơi, muà bi đến rồi đấy!” mà ngố quá, tôi không biết là cháu định nói gì. Ngày xưa, tôi chẳng nói mà cậu rất hiểu tôi.

P/S: Bài này của Nguyễn Như Dũng, đã được đăng trên báo Phụ nữ TP.Hồ Chí Minh tháng 7/1997 với bút danh Nguyễn Việt An.

1